A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH MỚI: TỪ TĂNG TRƯỞNG CAO ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Kinh tế Việt Nam trong chín tháng năm 2026 ghi nhận mức tăng trưởng cao, với tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước, trong khi công nghiệp, đầu tư và thương mại tiếp tục là những động lực quan trọng. Tuy nhiên, phía sau những kết quả tích cực vẫn là các vấn đề cần quan tâm về chất lượng tăng trưởng, năng lực tự chủ, hiệu quả sử dụng nguồn lực, sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước và khả năng chống chịu trước biến động quốc tế. Trong bối cảnh kinh tế, an ninh và địa chính trị ngày càng gắn bó chặt chẽ, yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao mà còn phải tạo dựng nền tảng phát triển bền vững, bao trùm, góp phần củng cố hòa bình, ổn định và nâng cao vị thế đất nước.

Cần tiếp tục rà soát, tháo gỡ các điểm nghẽn về hạ tầng logistics, kết nối cảng biển, thủ tục xuất nhập khẩu... Ảnh: KHIẾU MINH

Tăng trưởng cao tạo nền tảng mới cho phát triển

Những kết quả kinh tế chín tháng năm 2026 cho thấy nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì được động lực tăng trưởng trong bối cảnh môi trường quốc tế còn nhiều yếu tố bất định.

Theo báo cáo của Cục Thống kê, Bộ Tài chính công bố ngày 3/10/2026, GDP quý III tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 8,15% của quý I và 8,81% của quý II. Tính chung chín tháng, GDP tăng 9,01%. Trong đó, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, dịch vụ tăng 8,69%, nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,02%.

Đáng chú ý, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực quan trọng, với mức tăng 11,36%. Đây là lĩnh vực có khả năng tạo ra sự lan tỏa đối với xuất khẩu, việc làm, phát triển công nghiệp hỗ trợ và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Hoạt động thương mại quốc tế cũng ghi nhận sự mở rộng đáng kể. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa chín tháng đạt 888,02 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ; trong đó xuất khẩu đạt 434,30 tỷ USD, tăng 24,5%. Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4%, trong khi vốn thực hiện đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1%.

Những kết quả trên phản ánh khả năng duy trì hoạt động sản xuất, thu hút đầu tư và tham gia thị trường quốc tế của nền kinh tế Việt Nam.

Tuy nhiên, tăng trưởng cao trong một giai đoạn chưa đồng nghĩa với việc những vấn đề mang tính cơ cấu đã được giải quyết. Điều quan trọng hơn là xác định những yếu tố nào đang tạo ra tăng trưởng và liệu các yếu tố đó có thể duy trì hiệu quả trong dài hạn.

Theo phân tích đăng trên Báo Nhân Dân ngày 7/10/2026, ba động lực chủ yếu của tăng trưởng trong chín tháng gồm đầu tư công, công nghiệp gắn với xuất khẩu và tiêu dùng trong nước. Đây là những động lực có quan hệ hỗ trợ lẫn nhau, nhưng mức độ bền vững phụ thuộc vào hiệu quả đầu tư, khả năng mở rộng sản xuất và sức mua của thị trường.

Điều đó đặt ra yêu cầu chuyển từ việc chủ yếu quan tâm đến tốc độ tăng trưởng sang đánh giá đầy đủ hơn chất lượng, hiệu quả và khả năng duy trì tăng trưởng.

Tăng trưởng nhanh phải đi đôi với nâng cao chất lượng và năng lực tự chủ

Một vấn đề đáng chú ý trong cơ cấu kinh tế Việt Nam hiện nay là sự khác biệt về năng lực tham gia xuất khẩu giữa khu vực doanh nghiệp trong nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

Theo số liệu của Cục Thống kê, trong tổng kim ngạch xuất khẩu 434,30 tỷ USD của chín tháng năm 2026, khu vực kinh tế trong nước đạt 83,89 tỷ USD, chiếm 19,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, kể cả dầu thô, đạt 350,41 tỷ USD, chiếm 80,7%.

Những con số này cho thấy khu vực đầu tư nước ngoài có vai trò rất lớn trong hoạt động xuất khẩu của Việt Nam. Đây là kết quả của quá trình hội nhập và thu hút đầu tư quốc tế, đồng thời phản ánh một vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu: làm thế nào để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, nâng cao năng lực công nghệ và gia tăng phần giá trị được tạo ra trong nền kinh tế.

Không nên từ tỷ trọng xuất khẩu của khu vực FDI mà kết luận đơn giản rằng nền kinh tế thiếu tự chủ. Đầu tư nước ngoài có thể đóng góp quan trọng cho công nghệ, việc làm, năng lực sản xuất và liên kết thị trường. Vấn đề nằm ở chất lượng liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước, khả năng tiếp nhận công nghệ và sự phát triển của các ngành công nghiệp hỗ trợ.

Một dấu hiệu khác cần được phân tích thận trọng là cán cân thương mại. Chín tháng năm 2026, nhập khẩu hàng hóa đạt 453,72 tỷ USD, tăng 36,7%, cao hơn tốc độ tăng xuất khẩu; cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 19,42 tỷ USD.

Nhập siêu không tự động đồng nghĩa với suy giảm chất lượng tăng trưởng, bởi nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên liệu có thể phục vụ mở rộng sản xuất và đầu tư. Tuy nhiên, việc nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu đặt ra yêu cầu đánh giá kỹ cơ cấu hàng nhập khẩu, khả năng cung ứng trong nước và mức độ phụ thuộc vào các nguồn cung bên ngoài.

Trong bối cảnh chuỗi cung ứng quốc tế có thể chịu tác động của cạnh tranh thương mại, biến động năng lượng và xung đột địa chính trị, nâng cao năng lực tự chủ không có nghĩa là thu hẹp hội nhập. Trái lại, đó là quá trình tăng khả năng lựa chọn đối tác, đa dạng hóa thị trường, phát triển năng lực sản xuất trong nước và nâng cao khả năng ứng phó trước những biến động bất lợi.

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải trở thành động lực thực chất

Một trong những yêu cầu quan trọng nhất đối với phát triển kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới là chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Trong phân tích được Báo Nhân Dân công bố ngày 29/9/2026, chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam nhấn mạnh rằng, bên cạnh duy trì tăng trưởng cao, Việt Nam cần dựa nhiều hơn vào năng suất, đổi mới sáng tạo và sức mạnh của khu vực doanh nghiệp trong nước.

Đây là vấn đề có ý nghĩa dài hạn.

Tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng vốn đầu tư, sử dụng lao động và khai thác thị trường có thể tạo ra kết quả tích cực trong một giai đoạn. Tuy nhiên, để nâng cao thu nhập và sức cạnh tranh bền vững, nền kinh tế cần gia tăng năng suất lao động, trình độ công nghệ, chất lượng quản trị và khả năng tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, công nghệ bán dẫn, tự động hóa và các công nghệ mới đang mở ra cơ hội thay đổi phương thức sản xuất, quản trị và cung cấp dịch vụ. Nhưng cơ hội công nghệ không tự động chuyển thành năng suất hay năng lực cạnh tranh.

Việc ứng dụng công nghệ chỉ thực sự mang lại hiệu quả khi gắn với nhu cầu sản xuất, năng lực của doanh nghiệp, chất lượng nguồn nhân lực và môi trường thể chế phù hợp.

Vì vậy, cần chú trọng hơn đến liên kết giữa cơ sở nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận công nghệ; khuyến khích nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa các kết quả khoa học.

Đặc biệt, trong bối cảnh doanh nghiệp trong nước còn nhiều hạn chế về vốn, công nghệ và khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, chính sách đổi mới sáng tạo cần hướng tới nâng cao năng lực thực chất của khu vực này, thay vì chỉ tập trung vào những chỉ tiêu đầu tư hoặc số lượng dự án công nghệ.

Phát triển bền vững phải gắn với công bằng xã hội và an ninh con người

Tăng trưởng kinh tế chỉ thực sự có ý nghĩa lâu dài khi thành quả phát triển được chuyển hóa thành chất lượng cuộc sống tốt hơn cho người dân.

Theo báo cáo kinh tế - xã hội chín tháng năm 2026, số lao động có việc làm đạt khoảng 52,7 triệu người; thu nhập bình quân của người lao động đạt 9,1 triệu đồng/tháng, tăng so với cùng kỳ năm trước. Các chính sách an sinh xã hội tiếp tục được triển khai, góp phần hỗ trợ người dân và những nhóm có hoàn cảnh khó khăn.

Đây là những kết quả tích cực, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục quan tâm đến chất lượng việc làm, thu nhập thực tế, khả năng tiếp cận giáo dục, y tế, nhà ở và các dịch vụ thiết yếu.

Một nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh nhưng vẫn phải đối mặt với những thách thức về chênh lệch cơ hội phát triển giữa các vùng, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng thích ứng của người lao động trước thay đổi công nghệ.

Đặc biệt, chuyển đổi số và tự động hóa có thể tạo ra những ngành nghề mới, đồng thời làm thay đổi nhu cầu sử dụng lao động trong một số ngành truyền thống. Vì vậy, phát triển kinh tế cần đi cùng chính sách đào tạo lại, nâng cao kỹ năng và hỗ trợ người lao động thích ứng với thị trường việc làm.

Bên cạnh đó, tăng trưởng phải được đặt trong mối quan hệ với bảo vệ môi trường và sử dụng hiệu quả tài nguyên. Phát triển công nghiệp, đô thị hóa và mở rộng hạ tầng nếu không được quản lý phù hợp có thể tạo ra sức ép đối với môi trường, năng lượng và điều kiện sống của cộng đồng.

Từ góc độ phát triển bền vững, chất lượng tăng trưởng cần được đánh giá không chỉ qua GDP mà còn qua năng suất, chất lượng việc làm, mức sống của người dân, hiệu quả sử dụng tài nguyên và khả năng bảo vệ môi trường cho các thế hệ tương lai.

Hòa bình, ổn định và hợp tác quốc tế là điều kiện quan trọng của phát triển

Trong bối cảnh hiện nay, không thể tách rời phát triển kinh tế khỏi môi trường hòa bình, ổn định và hợp tác quốc tế.

Các cuộc xung đột, căng thẳng địa chính trị, tranh chấp thương mại và biến động năng lượng có thể ảnh hưởng đến chi phí sản xuất, vận tải, chuỗi cung ứng, đầu tư và đời sống người dân. Đối với một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam, những tác động từ bên ngoài có thể truyền dẫn nhanh thông qua thương mại, tài chính và giá cả hàng hóa.

Chính vì vậy, duy trì môi trường hòa bình, ổn định, mở rộng quan hệ hợp tác và chủ động hội nhập quốc tế có ý nghĩa thiết thực đối với phát triển kinh tế.

Tuy nhiên, hội nhập hiệu quả không chỉ là mở rộng quy mô thương mại và thu hút vốn đầu tư. Điều quan trọng là nâng cao chất lượng hợp tác, đa dạng hóa đối tác, phát triển năng lực nội sinh và tăng khả năng chống chịu của nền kinh tế.

Từ góc nhìn của hòa bình và phát triển, có thể thấy mối quan hệ hai chiều: môi trường hòa bình tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư, thương mại và nâng cao đời sống; ngược lại, phát triển kinh tế bao trùm, nâng cao phúc lợi và mở rộng hợp tác cùng có lợi cũng góp phần củng cố nền tảng cho hòa bình và ổn định xã hội.

Đây là một trong những cơ sở để nhìn nhận phát triển kinh tế không chỉ là mục tiêu tăng trưởng mà còn gắn với an ninh con người, ổn định xã hội và sự phát triển lâu dài của quốc gia.

Từ tăng trưởng cao đến nền tảng phát triển bền vững

Kết quả chín tháng năm 2026 tạo nền tảng thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, những tháng cuối năm vẫn đặt ra yêu cầu lớn đối với việc duy trì đà tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Nghị quyết số 312/NQ-CP ngày 5/10/2026 của Chính phủ nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục phát huy các động lực tăng trưởng truyền thống, thúc đẩy các động lực mới, gắn tăng trưởng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh.

Trên cơ sở các kết quả và vấn đề đã được công bố, có thể rút ra một số định hướng cần được quan tâm trong quá trình phát triển.

Trước hết, cần tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn và nâng cao hiệu quả điều hành chính sách. Tăng trưởng cao chỉ có thể duy trì bền vững khi đi cùng sự ổn định của môi trường kinh doanh và khả năng kiểm soát các rủi ro.

Đồng thời, cần nâng cao hiệu quả đầu tư công, ưu tiên những công trình hạ tầng có khả năng tạo liên kết vùng, giảm chi phí logistics và nâng cao năng lực sản xuất. Hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án cần được coi trọng cùng với tiến độ thực hiện.

Một yêu cầu quan trọng khác là phát triển khu vực doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ, tăng cường liên kết với doanh nghiệp FDI và nâng cao khả năng tham gia các khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi sản xuất quốc tế.

Cùng với đó, cần tạo chuyển biến thực chất trong ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; chú trọng chất lượng nguồn nhân lực, năng suất lao động và năng lực quản trị.

Đặc biệt, phát triển kinh tế cần gắn chặt với bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo vệ môi trường và thu hẹp khoảng cách về cơ hội phát triển giữa các nhóm dân cư, các vùng, miền.

Trong quan hệ quốc tế, tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động hội nhập và mở rộng hợp tác bình đẳng, cùng có lợi là những điều kiện quan trọng để bảo vệ lợi ích quốc gia, tận dụng cơ hội phát triển và hạn chế tác động bất lợi từ môi trường bên ngoài.

Nhìn tổng thể, những kết quả tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong chín tháng năm 2026 là cơ sở quan trọng để củng cố niềm tin và tiếp tục thực hiện các mục tiêu phát triển. Nhưng thành công lâu dài không chỉ được quyết định bởi tốc độ tăng GDP của một năm hay một giai đoạn.

Thước đo có ý nghĩa sâu xa hơn là khả năng chuyển hóa tăng trưởng thành năng suất cao hơn, năng lực tự chủ vững chắc hơn, đời sống nhân dân tốt hơn và một nền kinh tế có sức chống chịu trước những biến động của thế giới.

Đối với Việt Nam, phát triển kinh tế nhanh và bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống, củng cố ổn định xã hội và mở rộng hợp tác quốc tế không phải là những mục tiêu tách rời mà có quan hệ bổ trợ lẫn nhau.

Phát triển vì con người, dựa trên nội lực quốc gia và được thúc đẩy trong môi trường hòa bình, hợp tác chính là nền tảng quan trọng để Việt Nam tiếp tục phát triển bền vững trong bối cảnh mới.

 

Nguyễn Mạnh Hiền, BBT Website VPDC


Nguồn tham khảo chính:
  1. Cục Thống kê, Bộ Tài chính, Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng năm 2026, công bố ngày 3/10/2026, đăng trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.

  2. Chính phủ, Nghị quyết số 312/NQ-CP ngày 5/10/2026 về Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9 năm 2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương.

  3. Báo Nhân Dân, Ba động lực tăng trưởng của quý III và 9 tháng năm 2026, ngày 7/10/2026.

  4. Báo Nhân Dân, Tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng, ngày 29/9/2026.

  5. Báo Tin tức và Dân tộc/TTXVN, Tăng trưởng hai con số: Áp lực dồn về quý IV/2026, ngày 3/10/2026.

  6. Báo Tin tức và Dân tộc/TTXVN, Tăng tốc giải ngân đầu tư công, tiếp sức mục tiêu tăng trưởng hai con số, ngày 4/10/2026.